Thứ Sáu, ngày 13 tháng 12 năm 2013

Luận Bàn Về Lá Số Vô Chính Diệu

07:48 |
Lá số vô chính diệu là một trong những lá số khó giải đoán nhất, và từ trước cho đến nay vẫn là một vấn đề tranh cải và còn bỏ ngỏ vì chưa có lời giải đáp thuyết phục. Hiện nay tùy theo kinh nghiệm của mỗi người để giải đoán lá số vô chính diệu, chưa có một cách giải đoán chính thức bởi các lý do như sau:
- Chưa có sự lý giải chính thức về mức độ tốt khác nhau và tốt về phương diện nào theo số lượng sao Không thủ chiếu cung vô chính diệu?
- Tác dụng của các sao Không này đối với chính tinh trực chiếu ra sao?
- Giá trị của chính tinh trực chiếu so với giá trị của phụ tinh tọa thủ ra sao?
- Phải chăng 4 Không (Thiên Không, Địa Không, Triệt Không và Tuần Không ) có giá trị như nhau?

Để trả lời cho những vấn đề này chúng ta nên tìm hiểu vô chính diệu là như thế nào?

Cung vô chính diệu là cung mà không có chính tinh tọa thủ. Theo khoa tử vi có tất cả 14 chính tinh phân phối đều 12 cung như vậy thông thường trong một lá số, mỗi cung có một chính tinh tọa thủ và quản lý chi phối cung đó, và hai cung là có 2 chính tinh đồng quản lý. Trong trường hợp có hơn hai cung mà có hai chính tinh tọa thủ thì sẽ có cung thiếu chính tinh như vậy sẽ cung thiếu chính tinh sẽ rơi vào trường hợp vô chính diệu. Và cung vô chính diệu là cung bị thiệt thòi vì không có sự tác động của chính tinh như là con thuyền không lai hay miếng đất chưa khẩn hoang. Trường hợp cung vô chính diệu lại rơi vào cung mệnh hay thân thì mức độ ảnh hưởng lại quan trọng hơn.

Theo suy luận trên đưa đến hệ quả là cung vô chính diệu vì không có sự quản lý của chính tinh nên mọi sự giải đoán tại cung này khác hẳn với cung có chính tinh tọa thủ.

Hiện nay có hai khuynh hướng giải quyết sự việc này:
- Khuynh hướng thứ nhất cho rằng cung vô chính diệu có chính tinh đắc địa chiếu mới tốt hơn chính tinh hãm địa. Và chính tinh đắc địa là căn cứ vào vị trí tọa thủ chứ không căn cứ vào cung chiếu vô chính diệu.
- Khuynh hướng khác cho rằng phải có hung sát tinh hợp hành bản mệnh mà không bị Tuần Triệt án ngữ mới tốt.

Theo ý kiến và kinh nghiệm riêng của người viết có nhận xét như sau:
- Không có trường hợp nào cung vô chính diệu lại gặp cung trực chiếu cũng vô chính diệu. Như vậy cung vô chính diệu luôn luôn có chính tinh trực chiếu.
- Vì cung vô chính diệu khiếm khuyết chính tinh do vậy chỉ nên căn cứ vào số lượng sao Không thủ chiếu và chính tinh trực chiếu để giải quyết. Các phụ tinh dù là cát tinh hay hung tinh vì chịu ảnh hưởng của nhiều sao Không thủ chiếu nên mức độ tốt xấu đã thay đổi, không còn thuần nhất như ở cung chính diệu.

- Các sao Không ở cung vô chính diệu ngoài ý nghĩa cơ bản của nó, nó còn có ý nghĩa bổ khuyết trong trường hợp thủ chiếu cung vô chính diệu, về mặt lý thuyết THIÊN, ĐỊA, NHÂN.

THIÊN: đó là sao Thiên Không nói về thiên thời tùy theo vị trí đắc địa hay hãm địa.
ĐỊA: Đó là Địa Không nói về môi trường sống và hoạt động
NHÂN: Triệt Không (cuộc sống trước 30 tuổi) Tuần (cuộc sống sau 30 tuổi)

Như vậy tùy theo số lượng và ý nghĩa của sao Không chỉ nên được lý giải tốt xấu do sự hiện diện của các yếu tố Thiên Địa Nhân đắc địa và hãm địa.Và các sao này chịu ảnh hưởng trực tiếp của cung tọa thủ chứ không phải cung chiếu mà cũng không phải hành bản mệnh của đương số.

Tóm lại lá số vô chính diệu hiệu nay vẫn còn nhiều nghi vấn mà câu trả lời vẫn còn trong tìm kiếm và sự đóng góp của các bậc thức giả quan tâm.

Mã Ngộ Khốc Khách Tại Sao Lại Nghèo ?

07:21 |
Mã là ngựa, Khốc-Khách là tiếng nhạc ngựa đeo, thi ngựa chạy thì nhạc rung mà phát ra tiếng. Nhưng ngựa có no thì mới chạy được, ví như xe của ta ngày nay phải có nhiên liệu thì mới chạy, muốn có nhiên liệu cho xe thì ta phải có tiền, một chiếc xe hết xăng mà trong túi ta lại không có lấy một xu, thì chiếc xe lúc ấy trở thành vô dụng.
Bởi vậy muốn được hưởng Mã ngộ Khốc-Khách cho đúng cách thì trong tam hợp với Mã-Khốc-Khách phải có Lộc Tồn, tùy theo ở Mệnh hay ở hạn mà cách Mã-Khốc-Khách sẽ được hưởng lâu dài hay ngắn hạn.
Mã ngộ Khốc Khách mà không có Lộc Tồn là tiếng rên của ngựa chết đói.

(Trích Tử Vi Chỉ Nam - Phần phụ lục của Cam Vũ)

Những Người Sinh Đôi Vận Mệnh Có Giống Nhau Không ?

07:14 |

Về vấn đề vận mệnh của những người sinh đôi có giống nhau hay không ?


NHỮNG NGƯỜI SINH CÙNG NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ MỆNH VẬN CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG ?



có thể nói không hoàn toàn khác nhau. Vì cho dù cùng sinh trong một giờ, nhưng có trước có sau. Nếu không cùng sinh trong một giờ thì khác biệt còn rõ hơn nữa. Tôi đã sơ bộ điều tra thấy rõ, những người sinh đôi sau khi kết hôn thì sai lệch rất rõ, nguyên nhân là vì những người bạn đời họ chưa ít khi đều cùng một năm mệnh, cũng không thể cùng giờ sinh. Như vậy các thành viên tổ thành gia đình này phát sinh ra biến hóa, ngũ hành sinh khắc cũng đồng thời phát sinh biến hóa, cho nên mệnh vận của hai người sẽ khác nhau.
Vạn vật trong tự nhiên, thậm chí là trong cùng một sự vật, sự phát triển biến hóa còn không đồng đều, huống hồ những người cùng một ngày sinh làm sao mệnh vận lại giống nhau được.

Do đó sự tổ hợp thiên can địa chi trong năm, tháng, ngày, giờ sinh của mỗi người là nhân tố nội tại của mệnh vận tốt hay xấu, là căn cứ của sự biến hóa, nhân tố bên ngoài chỉ là điều kiện để biến hóa. Sự sắp xếp của thiên can địa chi, khí âm dương ngũ hành có mối quan hệ rất mật thiết với con người, đương nhiên chúng ta không phủ định sự nỗ lực chủ quan. Ví dụ trong tứ trụ có tiêu chí thông tin học đến đại học, nhưng không đọc sách, không nỗ lực học tập, chắc chắn là không tốt nghiệp đại học. Do đó muốn đạt được mục địch dự tính, ngoài nhân tố tiên thiên còn phải cộng thêm sự nỗ lực của hậu thiên.

NHỮNG NGƯỜI SINH CÙNG NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ MỆNH VẬN CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG ?

07:11 |
NHỮNG NGƯỜI SINH CÙNG
NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ, PHÚT, GIÂY
MỆNH VẬN CÓ GIỐNG NHAU KHÔNG ? 
Có người bạn nói chuyện với tôi về mệnh vận. Anh ta nói: tôi cực lực phản đối thuyết con người có mệnh vận và nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm của mình là đúng. Ví dụ, nếu có người nói con người có mệnh vận, thế thì những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây vì sao chỉ có một người làm vua. Nước ta có rất nhiều người giờ sinh như nhau, mệnh vận của họ nên giống nhau mới đúng, tại sao lại không giống? Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần cùng thời gian sinh thì mệnh vận sẽ như nhau, không thể khác nhau tí nào hoặc phân thành suy vượng được.

Tôi hỏi anh ta: ngày cùng là ngày cả thế tại sao còn có xuân hạ thu đông, có nóng lạnh khác nhau ? Ðất cũng là cùng một quả đất, vì sao có chỗ nước, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp? Cùng một mảnh đất, cùng một hạt lúa, cùng trồng sáu tháng vì sao có cây cao, cây thấp? Cũng một cành cây, tại sao có quả to, quả nhỏ. Nhân thể là một khối thống nhất, tại sao công năng của lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, có cái tốt, cái xấu? Vì sao có người chỉ có gan mộc khối u, còn các phủ tạng khác thì lại tốt? Tôi lại nói cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lớn.
Ông bạn ấy nghe tôi nói đã hiểu được vấn đề và nói lại là: "Ừ, đúng nhỉ! Lục phủ ngũ tạng đều cùng một giờ sinh, thế mà lại khác nhau rất lớn, thật đáng nghiên cứu.". Tôi nói với anh ta: "Tổ tiên chúng ta từ lâu đã nghiên cứu ra rồi, đó là lục phủ ngũ tạng đều có âm dương, có ngũ hành tương sinh tương khắc, mỗi cái chủ suy vượng của 4 mùa, cho nên cùng một giờ sinh, nhưng khác nhau rất lớn".
Nhữngngười cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ nói vắn tắt như sau:
1) Phương vị khác nhau, như phương nam là hỏa, phương đông là mộc, phương bắc là thủy, phương tây là kim. Người mệnh hỏa nhưng sinh ở phương nam hay phương bắc sẽ khác nhau. Phương nam là đất hỏa vượng, phương bắc bị thủy khắc cho nên không như người sinh ở phương nam.
2) Năm mệnh của phụ mẫu khác nhau.
3) Năm mệnh của anh chị em khác nhau.
4) Năm mệnh hôn nhân khác nhau.
5) Năm mệnh của con cái và số con đều khác nhau.
Vì năm mệnh tử vi của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. Ví dụ có một người mệnh Mộc, cha mẹ đều là mệnh Kim, đều khắc anh ta. Có người tuy cũng là mệnh Mộc, nhưng cha mẹ đều là mệnh Thủy, thủy sinh mộc. Người bị khắc cuộc sống sẽ không thuận, người được tương sinh cuộc sống sẽ thuận.
6) Nam nữ khác nhau, do đó mà có sự vận hành thuận, nghịch khác nhau.
7) Tướng mặt, vân tay không giống nhau cho nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.
8) Cốt tướng của người khác nhau.
9) Mộ tổ, nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau. Ngày xưa đã có câu "Nhất mộ, nhì phòng (nhà ở), tam bát tự", tức là nói mệnh vận tốt, xấu của một người, thứ nhất quyết định ở phong thủy phần mộ ông cha tốt hay xấu; thứ hai quyết định ở phong thủy của nhà ở; thứ ba quyết định ở sự sắp xếp tổ hợp của tứ trụ. Cho nên, cho dù ngày giờ sinh giống nhau, nhưng phần mộ tổ tiên và nhà ở không hoàn toàn giống nhau được.
10) Gen di truyền của mỗi người khác nhau.
11) Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
12) Ðiểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn, hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào nhà một người nào đó, hoặc đúng lúc người mang thai đang sinh, người đó có thể sẽ là hoàng đế, còn những người khác thì không làm nổi hoàng đế. Nếu có một tạp chí nào đấy đã thông báo: bố mẹ Mao Trạch Ðông đều không đồng thời nhìn thấy vầng đỏ phía đông phòng họ rồi sau đó mang thai Mao Trạch Ðông, đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.
Có một câu chuyện như sau:
Chu Nguyên Chương đời Minh sau khi đã làm Hoàng đế nghĩ rằng, mình đã làm vua và những người cùng giờ sinh với mình cũng là "mệnh Hoàng đế" cả, nếu không giết hết họ sau này sẽ có người tranh ngôi. Do đó ông đã ra lệnh giết, giết loạn mà không thương tiếc. Khi giết đến nửa chừng, Chu Nguyên Chương lại nghĩ nên bắt mấy người cùng giờ sinh với ông đến để hỏi xem họ làm nghề gì, sau đó giết cũng chưa muộn. Chu Nguyên Chương hỏi một người trong số đó: "Ông làm gì?" - "Nuôi ong" - "Nuôi bao nhiêu ong?" "Nuôi 9 tổ", tất cả mấy vạn con".
Chu Nguyên Chương sau khi nghe, vừa sợ vừa mừng: mình làm Hoàng đế thống trị cả 9 châu, 9 chư hầu. Ông ấy nuôi 9 tổ ong, có 9 ong chúa. Số ong của ông ấy nuôi và số người của mình cai trị đại thể giống nhau. Xem ra mình và ông ta không đều là Hoàng đế của người cả, làm hoàng đế của người chỉ có một mình, còn người khác, có người làm vua của ong, có người làm vua của tằm, có ngừơi làm vua của cá... Do đó Chu Nguyên Chương cảm thấy yên tâm và ngừng lệnh giết những người cùng ngày sinh.

Thứ Hai, ngày 02 tháng 12 năm 2013

Lá Số Bị Hiếp Dâm Tai Nạn Trinh Tiết

07:32 |
Muốn xem số phái nữ khi nào bị tai nạn "trinh tiết" thì  căn cứ thế nào?

Trước hết bất cứ là lá số phụ nữ nào khi cung Quan lộc hay cung Thân có Tuần hay Triệt, bất luận về yếu tố sao, chắc chắn sẽ không còn là con gái trước khi về nhà chồng.
Các lá số phụ nữ có các sao thuộc về dâm tinh thủ mệnh như Tham Lang, Thai, Đào, Riêu, Cự, Kỵ, Xương Khúc, Hoa Cái, Mộc Dục thì trong trường hợp này không coi là một tai họa, mà còn được họ coi là tự nhiên, một nhu cầu hay một sở thích, không đặt vấn đề luân lý đạo đức.
Trường hợp được coi là tai họa khi ở Mệnh hay hạn có các sao Thai, Phục gặp Không Kiếp chỉ sự bạo hành, cưỡng bức. Kinh nghiệm cho thấy hầu hết các lá số bị tai nạn tập thể do hải tặc Thái Lan đều thấy có Đào Hồng gặp Hình, Riêu, Không Kiếp.
Cự Môn và Hóa Kỵ hay Tham Lang và Hóa Kỵ chủ sự tình ngang trái mà sự thiệt thòi về phần phái nữ.
Thai, Hình, Tang, Hổ chỉ sự hiếp dâm đi liền với án mạng, nghĩa là người con gái sau khi bị bạo hành sẽ bị giết chết. Ý nghĩa của sao Thai khi đi chung với các sao dâm dục khác còn mang ý nghĩa có thai của phụ nữ.

(Trích Tử Vi Chỉ Nam - Phần phụ lục của Cam Vũ)

Thứ Năm, ngày 28 tháng 11 năm 2013

LUẬN BÀN CÁC CÁCH ĐI TU TRONG TỬ VI

07:50 |
Thân đều tốt, đặc biệt là ở Phúc.

Thiên Đồng: sao này cũng phải miếu, vượng và đắc địa mói có ý nghĩa tốt như Thiên Lương. Thiên Đồng càng thiện khi hội tụ với Thiên Lương ở Dần, Thân: xu hướng bác ái nhờ đó càng thêm mạnh.

Thiên Quan, Thiên Phúc: chủ làm việc thiện, tư tưởng thiện, tinh thần cứu nhân độ thế, niềm tin nơi thiêng liêng, năng khiếu tu hành, triển vọng đắc đạo. Nếu cả hai sao này cùng hội chiếu vào Phúc, Mệnh hay Thân thì hiệu lực càng mạnh thêm.

Ân Quang, Thiên Quý: mang rất nhiều ý nghĩa phúc đức và trường thọ. Về mặt tính tình, người có Quang Quý là kẻ nhân hậu, từ thiện, thành tín với bạn bè, hiếu đễ với cha mẹ, chung thủy với vợ chồng, sùng đạo với thiêng liêng. Về mặt giải họa, Quang Quý biểu tượng cho sự phù hộ của thần linh, sự trợ lực của người đời trong nhiều phương diện. Về mặt siêu hình, Quang Quý hỗ trợ cho sự cảm thông với linh thiêng, tinh thần vọng đạo hết sức mạnh mẽ. Từ đó, năng khiếu đi tu có triển vọng thành đạt nhiều hơn kẻ khác.

Tứ Đức: đều chủ cái hạnh tốt đẹp của người thiện tâm, lấy nhân nghĩa lễ trí tín làm kim chỉ nam xử thế.

Hóa Khoa: cái hạnh của Hóa Khoa cũng tương tự như cái hạnh của Tứ Đức. Sự khác biệt khả dĩ là hạnh của Tứ  Đức xuất phát từ tâm, trong khi cái hạnh của Hóa Khoa bắt nguồn từ văn hóa, học vấn mà có.


2. Những sao thất bại ở đời:

Những sao này thường đóng ở Mệnh, Thân có thể là ở Phúc cũng mang ý nghĩa tương tự: Tử Vi với sát tinh - Vũ Khúc với sát tinh -  Thiên Phủ, Tuần, Triệt với sát tinh. Đây là phá cách gọi chung là "đế ngộ hung đồ" ngụ ý một kẻ thất bại, bất đắc chí ở trường đời.

Cơ, Lương, Tuần, Triệt với sát tinh
Xương, Khúc, Tuần, Triệt với sát tinh
bất hạnh nặng nề cho kiếp sống con người, thúc đẩy thế nhân đi tìm nguồn an ủi khác trong cõi đạo.

Tử, Tham với Không, Kiếp: ở Mão Dậu là người yếm thế, bi quan, có khiếu tu hành. Gặp thêm Không, Kiếp là bị nghiệp chướng ở đời.

Mệnh vô chính diệu gặp sát tinh - Sát tinh vây hãm các cung cường: cách của người dễ đi tu.

Hồng Loan, Thiên Không: kẻ thất bại vì tình, thường tìm sự đoạn tuyệt nghiệp tình để đi tu.


3. Những sao cô độc:

Cô Thần, Quả Tú - Đẩu Quân - Vũ Khúc: điển hình cho sự cô độc, nói rộng hơn là sự đơn thân, lẻ bóng trong gia đạo, dù đóng ở Mệnh, Thân, hay ở Phu Thê, Tử. Càng gặp nhiều, tình trạng cô đơn càng chắc chắn, nhất là đối với nữ số.




LUẬN BÀN CÁCH HIẾM MUỘN CON - NHỮNG SAO HIẾM CON

07:49 |
1. Cách hiếm muộn qua các sao:

a. Các chính tinh ở cung Tử:
Vũ Khúc: dù đắc địa hay hãm địa, Vũ Khúc chỉ sự cô độc, ít oi. ở thế hãm địa, con sinh ra càng khó nuôi và tốn kém lúc nuôi dưỡng. ý nghĩa hiếm muộn càng rõ rệt hơn nếu Vũ nằm ở cung Tử của nữ số. Đi với Thất Sát thì càng ít con hơn, khả dĩ tuyệt tự. Nếu có thì còn cũng có tật hoặc hoang đàng, cha mẹ không nhờ vả được. Dù đi với Thiên Tướng cũng còn hiếm con. Đi với Phá Quân may ra được hai con nhưng không thể có con trai.

Thất Sát ở Thìn, Tuất: hiếm con, con lại mang tật bệnh hay hoang đàng. Nếu ở Tý, Ngọ thì nhiều lắm là được hai người, có thể có một trai. Đi với Liêm Trinh, ý nghĩa tương tự.

Tham Lang ở Tý, Ngọ: con hữu sinh vô dưỡng và rất ít, đặc biệt là không thể có con trai. Ngoài ra, con lớn lên thường bất mục, khó dạy.

Phá Quân: hiếm con, hữu sinh vô dưỡng, lại hình khắc với cha mẹ dù Phá tọa thủ ở cung nào cũng vậy. Đặc biệt đi với Liêm Trinh, ý nghĩa cũng tương tự.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi: hiếm con và khó nuôi con, may mắn thì được một con, ở Tỵ Hợi thì có hai nhưng sau này tha phương cầu thực, hoang đàng. Đồng cung với Nguyệt ở Ngọ cũng hiếm, nếu là nữ số thì sự hiếm muộn này bắt nguồn từ khí huyết suy nhược.

b. Các phụ tinh
(thiếu)
Support : Trang Chủ
Copyright © 2011. Xem Tử Vi - All Rights Reserved
Xem tốt nhất ở độ phân giải 1024 x 768 pixel